1. Lê Minh Hoàng

    Lê Minh Hoàng Moderator Thành viên BQT

    Điểm thành tích:
    3
    Nghề nghiệp:
    Dược sĩ
    Bài viết này giải thích ý nghĩa các xét nghiệm máu với tên gọi được viết tắt ngắn gọn như CBC, RBC, WBC, PLT, MCHC, MCH,...

    Tổng phân tích tế bào máu Complete Blood Count, viết tắt là CBC, một số nơi thì dùng từ Full blood count (FBC), hay Full Blood Exam (FBE) là xét nghiệm có thể nói là thông dụng nhất trong chẩn đoán bệnh mà bác sĩ thường chỉ định xét nghiệm. Nó cung cấp thông tin tổng quát về số lượng các loại tế bào có trong máu, bao gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu.

    Mô hình xương cá của tổng phân tích tế bào máu:
    [​IMG]

    Chỉ số xét nghiệm máu RBC là gì?

    [​IMG]

    RBC được viết tắt từ Red Blood Cell là số lượng hồng cầu.
    Mức bình thường:
    - Nam: (4.2 ± 0.2) x 10^6/mm3 hay (4.2 ± 0.2) x 10^12/L
    - Nữ : (3.85 ± 0.15) x 10^6/mm3 hay (3.85 ± 0.15) x 10^12/L

    Chức năng chính của RBC là vận chuyển oxy từ phổi đến các mô nhờ vai trò của huyết sắc tố, hay còn gọi là hemoglobin. Có 2 loại hồng cầu có thể gặp trong máu ngoại vi là hồng cầu lưới và hồng cầu trưởng thành.
    Hồng cầu lưới là hồng cầu non từ tủy xương mới ra ngoài máu, sau 24-48 giờ, hồng cầu lưới trở thành hồng cầu trưởng thành. Hồng cầu lưới chiếm khoảng 0.5-1.5% (theo hệ SI=0.005-0.015) của tổng số hồng cầu.
    Trong hồng cầu, phần vận chuyển oxy là Hemoglobin (Hb). Thành phần quan trọng của Hb là sắt. Lượng sắt toàn bộ cơ thể vào khoảng 4g, trong đó 65% ở Hb. Đời sống hồng cầu trong máu ngoại vi khoảng 120 ngày.
    RBC tăng khi cơ thể bị mất nước hay bệnh lý tăng hồng cầu.
    RBC giảm khi bị thiếu máu

    Chỉ số xét nghiệm máu HGB hay Hb là gì?

    Chất lượng của hồng cầu phụ thuộc vào cả chất và lượng hemoglobin trong hồng cầu.
    HGB hay Hb là chỉ số nồng độ hemoglobin trong máu.
    Mức bình thường HGB của người VN là:
    - Nam: (14.6 ± 0.6) g/dL
    - Nữ : (13.2 ± 0.5) g/dL
    Được coi là thiếu máu khi nồng độ hemoglobin thấp hơn 13g/dL ở nam và 12g/dL ở nữ. Ở trẻ sơ sinh: dưới 14g/dL
    Thiếu máu có thể do mất máu một cách quá nhanh, do hiện tượng tan máu hoặc do suy giảm sản xuất hồng cầu hoặc hồng cầu tạo ra không đạt chất lượng yêu cầu (do suy tủy, do thiếu vitamin) nhưng cũng có trường hợp thiếu máu giả do máu bị hòa loãng làm tăng thể tích huyết tương.

    Chỉ số xét nghiệm máu Hematocrit hay HCT là gì?

    Nếu ly tâm máu toàn phần đã chống đông trong một ống mao quản, sẽ tách được 2 phần: phần lỏng phía trên là huyết tương, phía dưới là các huyết cầu. Trong huyết cầu, hồng cầu chiếm phần lớn thể tích. Tỷ lệ % giữa thể tích huyết cầu với thể tích máu toàn phần gọi là hematocrit hay HCT
    Bình thường, chỉ số này ở nam là 39-45%, ở nữ là 35-42%
    Hematocrit (HCT) giảm trong chảy máu, tiêu huyết và tăng trong mất nước do tiêu chảy, nôn mửa, sốt kéo dài.

    Chỉ số xét nghiệm máu MCV, MCH, MCHC là gì?

    Các chỉ số MCV, MCH, MCHC được dùng để phân loại thiếu máu.

    MCV được viết tắt từ Mean Cell Volume, nghĩa là “Thể tích trung bình của hồng cầu”

    MCV= Hematocrit / Lượng hồng cầu
    Bình thường là 88-100 µm3 (88-100 fl)
    *1fl (femotolit) = 10-15 lit = 1 µm3
    MCV được sử dụng để tìm ra các thay đổi về kích thước hồng cầu (hồng cầu nhỏ, hồng cầu to, hồng cầu khổng lồ)
    Khi MCV<80 fl: thiếu máu hồng cầu nhỏ
    Khi MCV>100fl: thiếu máu hồng cầu to
    Khi MCV>=160fl: thiếu máu hồng cầu khổng lồ

    MCH được viết tắt từ Mean Cell Hemoglobin, ý nghĩa là “Lượng hemoglobin trung bình của hồng cầu”
    MCH = Hemoglobin / Số lượng hồng cầu
    Bình thường là 28-32 pg (picogam) = 1.8 – 2fmol (femtomol)

    MCHC được viết tắt của từ Mean Cell Hemoglobin Concentration, ý nghĩa là “Nồng độ hemoglobin trung bình của hồng cầu”
    MCHC = Hemoglobin / Hematocrit = MCH / MCV
    Bình thường là 320 g/L = 20-22 mmol/L
    MCHC cho phép xác định tính chất đẳng sắc, ưu sắc hoặc nhược sắc của các chứng thiếu máu. MCHC đươc cho là có phần đúng hơn MCH.

    Các dạng thiếu máu thường gặp:
    - Thiếu máu nhược sắc, hồng cầu nhỏ: Huyết sắc tố (Hemoglobin) giảm nhiều so với số lượng hồng cầu, thường gặp trong thiếu máu do xuất huyết mạn tính, loét dạ dày tá tràng, giun móc, trĩ, sốt rét, ăn uống thiếu chất sắt (Fe)
    - Thiếu máu đẳng sắc, hồng cầu bình thường: Huyết săc tố hạ song song với số lượng hồng cầu, không có thay đổi kích thước hồng cầu; hay gặp trong xuất huyết cấp tính, thiếu máu tiêu huyết, một vài bệnh nhiễm khuẩn, thương hàn.
    - Thiếu máu ưu sắc, hồng cầu to: Huyết sắc tố (Hemoglobin) giảm ít so với lượng hồng cầu, trong máu thấy nhiều hồng cầu khổng lồ, hồng cầu to; thường thấy khi thiếu máu thể Biermer, thiếu máu sau khi phẫu thuật cắt bỏ dạ dày, khi có thai, xơ gan, thiếu vitamin B12 hoặc acid folic.
    Một số thuốc và hóa chất (pyramidon, chloramphenicol, chì, benzene, tia Rơnghen) có thể gây thiếu máu do tác dụng ức chế tủy xương, làm giảm hoặc mất chức năng tủy xương. Trong trường hợp này thường là thiếu máu đẳng sắc hoặc nhược sắc, kích thước hồng cầu nhỏ. Một số thuốc khác có thể gây thiếu máu tan huyết theo cơ chế miễn dịch dị ứng như betalactamin, tetracyclin, tolbutamid, chloropropamid, quinin, rifampicin, primaquin, nitrofurantoin, sulfamethoxazole, …

    Ý nghĩa chỉ số xét nghiệm máu WBC

    WBC được viết tắt từ White Blood Cells/Count, hay “số lượng bạch cầu”.

    Mức bình thường: (3.2 - 9.8) x 10^3/mm3 hay theo SI: (3.2 - 9.8) x 10^9/L
    Bạch cầu giúp cơ thể chống lại tác nhân gây bệnh bằng cách thực bào hoặc cơ chế miễn dịch. Dựa vào hình dạng và cấu trúc, bạch cầu được chia thành 5 loại với tỷ lệ % như sau:
    - Bạch cầu đa nhân trung tính (Neutrophile, viết tắt %NEU): 50-70%
    - Bạch cầu đa nhân ưa acid (Eosinophile, viết tắt là %EOS): 1-4%
    - Bạch cầu đa nhân ưa base (Basophile, viết tắt là %BASO): 0-1%
    - Bạch cầu mono (Monocyte, viết tắt là %MONO): 5-7%
    - Bạch cầu lympho (Lymphocyte, viết tắt là %LYM): 20-25%

    Cả 3 loại bạch cầu đa nhân đều có rất nhiều hạt đặc trưng nên người ta còn gọi là bạch cầu hạt.

    Khi WBC > 10.000/mm3, thì gọi là tăng bạch cầu, có thể là dấu hiệu nhiễm trùng, dị ứng, tổn thương mô. Nếu WBC vượt 30.000/mm3 thì có thể mắc bệnh về máu như ung thư máu dòng bạch cầu. Và khi WBC < 3000/mm3 được xem là là giảm bạch cầu.

    Bạch cầu hạt trung tính (bạch cầu đa nhân trung tính, viết tắt là NEU):

    Mức bình thường: (1.1 - 7.0) x 10^3/mm3 hay theo SI: (1.1 - 7.0) x 10^9/L

    NEU chứa nhiều enzyme thủy phân, đóng vai trò thực bào. Một NEU có thể thực bào từ 5-20 vi khuẩn.
    Tăng NEU (trên 70%, có thể tới 95%) gặp ở bệnh nhiễm khuẩn cấp tính như viêm phổi, viêm ruột thừa, viêm amidan, hay các bệnh gây mủ, áp xe, nhọt,…

    Giảm NEU (1500 đơn vị/mm3) có thể do quá trình tân sinh tế bào bạch cầu bị giảm hay quá trình phá hủy bị tăng lên. Trường hợp này hay gặp ở các bệnh nhiễm khuẩn, ví dụ như thương hàn, cúm, sởi, AIDS, sốt rét hay do các thuốc tác động lên quá trình tổng hợp DNA (phenothiazine, phenytoin, kháng sinh, sulfonamide, các thuốc diệt tế bào dùng trong điều trị ung thư hoặc do đáp ứng với thuốc (chloramphenicol, phenylbutazon, quinidine).
    Giảm NEU cũng có thể do tăng cường phá hủy bởi cơ chế miễn dịch đối với bệnh nhân dùng aminopyrin, phenylbutazon, sulfapyridin. Nghiêm trọng hơn là chứng mất bạch cầu hạt (agranulocytosis) khi bạch cầu hạt bị giảm đột ngột xuống rất thấp (nhỏ hơn 200/mm3) kèm với các triệu chứng như sốt, loét, hoại tử niêm mạc miệng, họng….
    Mất bạch cầu hạt gặp trong trường hợp tủy xương bị tổn thương nặng (suy tủy) hoặc do nhiễm trùng, nhiễm độc.

    Bạch cầu đa nhân ưa acid (bạch cầu ưa eosin, viết tắt là EOS)

    Bình thường: (0 – 0.4) x 10^3/mm3 hay theo SI: (0 – 0.4) x 10^9/L

    EOS cũng có khả năng thực bào nhưng yếu hơn nhiều so với NEU.
    Tăng EOS trong các bệnh dị ứng, hen, eczema, các bệnh ký sinh trùng (giun, sán)
    Giảm EOS trong trạng thái sốc, bệnh Cushing, các trạng thái tủy xương bị thương tổn hoàn toàn.

    Bạch cầu đa nhân ưa base (viết tắt là BASO)

    Bình thường: (0 – 0.15) x 10^3/mm3 hay theo SI: (0 – 0.15) x 10^9/L

    BASO rất hiếm gặp trong máu. BASO không có khả năng vận động và thực bào. BASO cũng có vai trò trong dị ứng: kháng thể của các phản ứng dị ứng là IgE thường được gắn lên màng của BASO và tế bào mast của mô (mastocyte được coi là bạch cầu ưa base tại mô). Một khi kháng nguyên đặc hiệu phản ứng với kháng thể này sẽ làm cho những BASO có gắn IgE bị vỡ và giải phòng một số lượng lớn histamine, bradykinin, serotonin. Chính những chất này gây ra các phản ứng tại chỗ như phù, mẩn, ngứa, đau.

    BASO tăng trong các trạng thái tăng mẫn cảm, thiểu năng tuyến giáp
    BASO giảm trong điều trị corticoid dài ngày.

    Bạch cầu mono (viết tắt là MONO)

    Bình thường: (0.2 – 0.7) x 10^3/mm3 hay theo SI: (0.2 – 0.7) x 10^9/L

    Sau khi được sinh ra trong tủy xương, MONO vào máu một thời gian ngắn rồi đi vào các mô, nhanh chóng trở thành đại thực bào. Ở máu, MONO là những tế bào chưa trưởng thành nên không có khả năng tấn công và phá hủy các tác nhân gây bệnh. Như vậy, bạch cầu mono và đại thực bào là các giai đoạn khác nhau của cùng 1 loại tế bào và hợp thành hệ thống trước đây gọi là võng nội mô hay hệ thống đại thực bào của mô. Đại thực bào gắn với mô được gọi là đại thực bào cố định, chúng ở đấy hàng tháng, hàng năm và cũng có thể rời khỏi mô để trở thành đại thực bào lưu động, đi đến các vùng viêm nhiễm theo cơ chế hóa ứng động.

    Chức năng của MONO là thực bào. Một đại thực bào có thể ăn tới 100 tế bào vi khuẩn, hồng cầu già, bạch cầu trung tính đã chết, ký sinh trùng, mô hoạt tử. Ngoài ra, MONO còn có vai trò trong khởi động quá trình miễn dịch của cơ thể. Khi vi khuẩn, virus hoặc tác nhân lạ xâm nhập vào cơ thể, các đại thực bào sẽ thực bào và tiêu hoá chúng thành những sản phẩm mới nhưng vẫn còn khả năng hoạt hoá quá trình miễn dịch, nghĩa là kích thích tế bào lympho B sản xuất ra kháng thể đặc hiệu để tiêu diệt virus, vi khuẩn.

    Mono thường tăng trong bệnh nhiễm khuẩn cấp tính và mạn tính (như bệnh lao, cúm, viêm gan, ung thư...). MONO ít khi giảm, có thể thấy sau khi tiêm thuốc cortison.

    Bạch cầu lympho (viết tắt là LYM).

    Mức bình thường là (1.5 – 3) x 10^3/mm3 hay theo SI: (1.5 – 3) x 10^9/L

    LYM là những tế bào có khả năng miễn dịch.
    Có 2 loại lympho:
    - Lympho B có vai trò miễn dịch thể dịch, sản xuất ra các kháng thể lưu động trong máu để tấn công tác nhân lạ xâm nhập.
    - Lympho T có vai trò miễn dịch tế bào. Khi được kích hoạt, nó sẽ trở thành các lympho cảm ứng, tiêu diệt các tác nhân gây bệnh .
    Đa số các tế bào lympho khu trú ở lách và mô bạch huyết. Những lympho lưu động trong máu chỉ chiếm tỷ lệ dưới 5% tổng số lympho toàn cơ thể.
    Lượng tế bào lympho có thể tăng hay giảm ở các bệnh nhiễm trùng hay nhiễm virus như viêm khớp, dị ứng thuốc. Sự giảm nhiều số lượng tế bào lympho gọi là suy giảm miễn dịch. Sự suy giảm này có thể do bẩm sinh, hoặc suy giảm do mắc phải (như tác dụng phụ của thuốc trị ung thư, do thuốc ức chế miễn dịch trong ghép mô, nhiễm xạ, nhiễm HIV).

    Ý nghĩa chỉ số xét nghiệm máu PLT.

    PLT được viết tắt từ Platelet cout, hay “số lượng tiểu cầu”

    Mức bình thường: (150 – 300) x 10^3/mm3 hay theo SI: (0.15 – 0.3) x 10^12/L

    PLT là những tế bào không nhân, tham gia vào quá trình cầm máu. Khi thành mạch bị tổn thương, PLT sẽ tập kết tại đó cho đến khi hình thành nút tiểu cầu bịt kín chỗ bị tổn thương. Giảm PLT xuống dưới 100.000/mm3 dễ sinh chảy máu.
    Giảm PLT có thể do suy tuỷ, do ung thư, do nhiễm độc asen, benzen, nhiễm khuẩn và virut. Nhiều thuốc có thể gây giảm PLT (cloramphenicol, quinidin, heparin, nhiều thuốc ung thư).
    Nhiều thuốc khác có khả năng ức chế sự kết dính tiểu cầu như nhóm thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs), trong đó có aspirin là ức chế không hồi phục.

    (trích Dược lâm sàng, NXB Y học)
     
    Last edited by a moderator: 29/5/16
    Tags:
    nhungbry thích bài này.
Chia sẻ
Đang tải...